Huyền thoại Núi Đót

 

NÚI ĐÓT – HUYỀN THOẠI, DI TÍCH VÀ LỊCH SỬ – MỘT TIỀM NĂNG CHƯA ĐƯỢC ĐÁNH THỨC

          Núi Đót, ngọn núi cao nhất của huyện Tân Yên, nằm vắt ngang địa giới hai tỉnh Bắc Giang và Thái Nguyên. Đường địa giới chạy qua yên ngựa, chia núi Đót ra làm hai phần, nửa phía đông nam là làng Yên Lý, Mai Hoàng, xã Phúc Sơn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Nửa phía tây bắc là làng Phẩm, làng Giàng, làng Núi xã Dương Thành huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Núi Đót nằm ở tây bắc của huyện Tân Yên, cách trung tâm huyện chừng 17 km. Núi có độ cao 121,8m, rộng 300ha, chạy theo hướng tây bắc – đông nam. Đứng trên đỉnh núi nhìn xuống, xung quanh hiện lên những cánh đồng mầu mỡ, những dải kênh mương trong xanh, những khu dân cư quần tụ, những rặng tre xanh và con đường 297 vừa được rải nhựa bóng loáng… tạo nên một bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ. Núi Đót vốn có tên là núi Phúc, vì ở đây thờ một vị Phúc Thần (Giã Đại Thần). Năm 1945 khi sát nhập ba xã Lý Cốt, Lãn Quật, Lam Quật làm một, lấy tên là xã Phúc Sơn (xã có ngọn núi Phúc). Trải qua thiên tai, địch hoạ và cả nhân hoạ, núi Phúc bị đốt cháy nhiều lần, nhân dân trong vùng mới gọi là núi Đốt, dần dần gọi chệch đi thành núi Đót.Trong khu vực núi Đót, các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều di vật đồ đá như: hai chiếc cuốc bằng đá, chiếc thứ nhất dài 15,6cm lưỡi rộng 10,2 cm được chế tạo từ đá gốc mầu xám, chiếc thứ hai chỉ còn lại một phần của lưỡi rộng 8,5 cm. Ngoài ra còn có các mảnh tước, rìu tay, các mảnh ghè đẽo, một số cổ vật bằng đồng như rìu, dáo, mũi lao…Điều đó chứng tỏ từ thời nguyên thủy trên mảnh đất này đã có con người sinh sống. Cũng bởi một vùng đất lịch sử văn hoá lâu đời như vậy mà nơi đây có rất nhiều truyền thuyết, huyền thoại, thần phả, cùng với một hệ thống di tích về: lịch sử, văn hoá, tín ngưỡng tâm linh, cách mạng… phong phú đa dạng qua nhiều thời kỳ. Đó là: cụm đình chùa Lý Cốt, nghè Nàng Giã, giếng Hà, mộ Nàng Giã, đền Đót, nghè Mét, đình Yên Lý, giếng Tiên, suối Tiên, bàn cờ Tiên, Am Vân, bia nhị vị Tiên Công, Bia làng Đỏ (làng Yên Lý)…                                                                                                                                                       

          Người xưa có câu: núi thiêng không phải bởi núi cao mà bởi núi ấy có thần tiên ở. Núi Đót có tới ba, bốn truyền thuyết, huyền thoại và thần phả nói về thần tiên ngự. Phổ biến nhất, gắn chặt với những di tích ở đây nhất, và có ý nghĩa nhất là huyền thoại về Nàng Giã Đại Thần. Theo Thần tích ở Lý Cốt cho biết: Vào năm 40 sau công nguyên, bà Dương Thị Giã ở đây, đã nổi lên tập hợp những người yêu nước phất cờ khởi nghĩa chống Tô Định. Đoàn nữ binh từ núi rừng tiến về Mê Linh, nhập vào hàng ngũ nghĩa quân của Hai Bà Trưng. Dương Thị Giã Được phong Tướng. bà đã cầm quân đánh nhiều trận, lập được nhiều chiến công. Trong một trận quyết chiến, bà bị thương khắp người, nhưng vẫn một mình một ngựa, phá vòng vây, về đến núi Đót mới chịu ngã xuống trên mảnh đất quê nhà. Bà được nhân dân trong vùng tôn làm Thần, gọi là Nàng Giã Đại Thần. Lập đền thờ  ở cả trên núi và trong khu vưc đình chùa Lý Cốt. Nội dung trên đây đã được ghi trong Địa Chí Tân Yên, và khắc bia đá đặt nơi mộ Nàng. Ngày nay di tích về Nàng còn lại trong khu vực có: giếng Hà, Mộ và đền thờ. Giếng Hà có đường kính chừng 2m, kè đá từ đáy lên, nước bốn mùa trong vắt. Giếng nằm dưới tán cây cổ thụ nhưng lại ở giữa cánh đồng Lý Cốt, cách Kẽm Vương chừng cây số. Kẽm Vương nằm trên lưng chừng núi, có suối Tiên róc rách bên mình. Đầu nguồn suối Tiên có giếng Tiên, một giếng rất lạ nứt ra từ khối đá lớn, có hình chữ nhật chiều dài chừng 1,5m, chiều rộng độ 0,4m. Giếng nằm tận yên ngựa đỉnh núi, nhưng quanh năm dù nắng hạn thế nào cũng không bao giờ hết nước, cạnh giếng là một miếu thờ có đề hai chữ: “Thượng Sơn”. Kẽm Vương là một vạt đất tương đối bằng phẳng, hai bên có hai dông đất chạy thoai thoải xuống chân núi, trông tựa như tay ngai của một ngai vàng trời đất. Tương truyền rằng: khi Nàng về đến giếng Hà thì dừng lại nơi đây để tắm gội. Bởi thiên định muốn đưa Nàng vể hóa ở Kẽm Vương, nên đã sai chim đại bàng vờ cắp quần áo để dụ Nàng. Nàng không biết cứ  lặng lẽ đuổi theo, đuổi theo mãi. Mặc dù “Kẽm Vương đâu xa chỉ độ thôi đường. Nhưng phận gái đầy mình thương tích/ Đại bàng thì bay còn Nàng chân đất/ Đành thân một nơi quần áo một nơi”. Nàng đã kiệt sức ngã xuống rồi hoá ngay phía dưới Am Vân và Bàn cờ Tiên, cách Kẽm Vương không đầy 200m. Mộ Nàng  nằm dưới một lùm cây cổ thụ, có cây to người ôm không phỉ, dây leo dày đặc, có dây to bằng cột nhà, cứ chằng chịt ngoằn ngoèo giống như một bầy trăn rắn uốn khúc quần lộn rất dữ, lúc nào cũng như nhăm nhăm bảo vệ ngôi mộ, điều đó càng làm cho ngôi mộ thêm phần thâm nghiêm, huyền bí. Cũng không hiểu vì sao, núi Đót đã bao nhiêu lần cháy trụi, đã bao nhiêu năm dân đào cả gốc sim gốc mua về làm củi, làm cho núi Đót thành núi trọc, ấy vậy mà lùm cây nơi mộ Nàng cứ bốn mùa xanh tốt, xanh tốt đến tận bây giờ. Năm 2010 nhà nước đầu tư ngót hai trăm triệu để trùng tu khu mộ. Khuôn viên mộ chừng 360 m2 đã có tường bao, một ngôi mộ khang trang, tố hảo đã được tạo lập. Phía trước mộ có gắn bia ghi Thần tích, có khắc đôi câu đối: “Dương gia liệt nữ, vĩnh thế lưu danh ư quốc sử / Phúc Sơn cổ mộ, vạn đại hinh hương phổ nhân gian”. Nghĩa: Nữ tướng Dương gia oanh liệt, muôn đời lưu danh ở quốc sử / Ngôi mộ cổ ở Phúc sơn, mãi mãi hương thơm lan toả trong nhân gian. Phía bên phải Mộ là đền Đót. Đền Đót nằm trên Kẽm Vương, tương truyền là nơi muốn đưa Nàng về ngự. Trong đền có tượng, có hoành phi câu đối rất trang trọng. hai đôi câu đối ghi: “sơn thuỷ hữu tình xuất sinh Thánh mẫu / Độ trì dân bản thịnh vượng an khang” và “Nhật nguyệt quang minh phần tế thế / Cao sơn Đức Mẫu ngự an dân”. Đôi thứ hai có nội dung rất hay: “Đức Mẫu ở trên núi cao, như mặt trăng mặt trời tự đốt mình lên làm ánh sáng tế thế, an dân”.                                                                                                                                           

          Cũng tương truyền rằng: từ sự tích giữa trưa 8/4 Nàng đuổi theo đại bàng để lấy lại quần áo, bởi: “khuôn vàng lộ giữa thanh thiên bạch nhật” mà “ngàn năm sau còn cấm lửa, cấm đồng”. Theo lệ hàng năm, cứ sáng ngày 8/4 nhân dân trong vùng lại rước Ngai từ Nghè Nàng lên mộ làm lễ, lễ phải xong trước 12 giờ trưa, để từ đó đến trưa hôm sau 9/4 không ai được ra đồng, không ai được đốt lửa, ăn đồ nguội, ở nhà thờ cúng Nàng. Đồ thờ cúng cũng sắm toàn đồ đen: gà đen, xôi nếp cẩm đậu đen, cờ thần cũng treo cờ đen…Có câu truyện được lưu truyền rằng: năm ấy, một gia đình đến phiên sửa lễ Đền, đi tìm mua gà đen không có, tìm mãi mới thấy có một con gà toàn thân đen, nhưng vẫn còn một cái lông đuôi trắng. Nghĩ rằng nếu nhổ đi thì chắc không ai biết được. Bèn cứ liều mua về làm lễ. Ngờ đâu làm lễ xong, cả nhà ốm quặt ốm quẹo mấy tháng trời, chữa thuốc gì cũng không khỏi. Mãi đến khi tự nhận lỗi lầm, làm lễ tạ thì gia đình mới lành bệnh.

          Ở Nhã Nam cũng có truyền thuyết nói về Nàng Dương Thị Giã. Nàng sinh ra ở làng Chuông, mẹ đẻ là người làng Thượng. Nàng ra đi từ hồ Tứ Giáp, nay hồ ấy vẫn còn và rộng chừng 1000 m2 ở trước cửa chùa Tứ Giáp bây giờ (Tứ Giáp trước đây là bốn làng: làng Thượng, làng Hạ, làng Chuông và làng Nguộn). Truyền thuyết cũng nói Nàng hoá ở núi Đót, cho nên hai làng kết nghĩa anh em, cả hai nơi đều thờ Nàng làm thần Thành Hoàng. Tháng 4 tổ chức ở Lý Cốt, tháng 8 tổ chức ở làng Chuông, cả hai đều cúng tế rất long trọng. Trước khi tế ở làng Chuông bao giờ cũng về dâng hương quê mẹ làng Thượng. Lại còn có lệ khi cai đám dẫn đoàn tế từ làng này sang làng kia, thì dù mưa nắng thế nào cũng không bao giờ được đội mũ nón, không được che ô (bởi khi Nàng ra đi đầu trần). Cỗ bàn dù to  đến đâu cũng đều ăn nhạt (vì khi Nàng ra đi, chỉ đem được nắm cơm, còn gói muối thì không kịp, vì quá vội). Tuy truyền thuyết có một số tình tiết khác nhau, nhưng chung quy vẫn khẳng định Nàng là Giã Đại Thần, sinh ở làng Chuông, hoá ở núi Đót, một vị Phúc thần, được thờ phụng từ lâu đời ở cả hai nơi: làng Chuông và núi Đót. Đến nay, cả hai nơi này đều đã được tỉnh cấp bằng công nhận di tich lịch sử văn hoá.

          Khu vực núi Đót vào khoảng cuối thế kỷ 19 còn rất rậm rạp, hẻo lánh, hiểm trở và nhiều thú dữ. Chính các tên xã trong khu vực này như Lam Quật (rừng rú và hầm hố), Lãn Quật (vùng hầm hố lười, tức là chưa được khai thác) cũng phần nào nói lên điều đó. Bấy giờ có hai thanh niên họ Nguyễn ở làng Vân Hà thuộc Việt Yên, đã sớm phát hiện ra tiềm năng của núi Đót, mới lên đây, tổ chức khai sơn phá thạch, lập nên làng Yên Lý vào năm 1910 (lấy chữ Yên của Việt Yên và lấy chữ Lý của Lý Cốt để đặt tên làng). Đến nay hai vị ấy được tôn vinh là Nhị Vị Tiên Công của làng, được thờ cúng ở đình Yên Lý cùng với thần thành hoàng, công danh hai vị được khắc vào bia đá, và bia đá cũng được đặt trên bệ thờ trong đình. Nội dung bia có đoạn: “Thường nghe: Người làm bia để ghi lại những sự việc, có khi xẩy ra từ xưa. Có thể kỳ công khắc vào đá cho bền lâu, cũng có khi ghi vào thẻ trúc, chép lên giải lụa nhằm lưu danh mãi mãi không bị phai mờ. Đó là một việc làm đáng xếp vào loại nhất, không phải tầm thường. Nơi đây, một vùng đất về phía bắc chúng ta, mới bắt đầu khởi sắc. Thuộc tỉnh Bắc Giang, phủ Yên Thế, tổng Lan Giới, xã Lý Cốt, thôn Yên Lý. Vốn là nơi đường xá nhỏ hẹp, đi lai rất khó khăn. Vậy mà nhờ Nhị vị Tiên Công Tử, giúp mệnh Quan, theo lòng dân, sớm có ý tưởng lên đây khai khẩn vùng này thành một cơ sở thực sự cơ bản, và muốn xây dựng một khu đất rộng lớn, có tường vây làm khu chăn nuôi ngựa, gia súc. Nhị vị Tiên Công là người luôn luôn giữ vững tính cách trời phú, rất kiên quyết cương nghị, có tinh thần hiến dâng cho sự nghiệp…rất dũng cảm, coi thường hiểm nguy. Vì vậy đến nay đã khai khẩn được 220 mẫu ruộng các loại. Lại khéo léo vận động những trai tráng nhà nghèo, những người thạo việc thổ mộc ở quê hương lên đây lập nghiệp. Trong địa giới của mình, các vị đã xây dưng đủ giếng nước, ao chuôm, đất đai để các gia đình canh tác và sinh sống… Nhị vị Tiên Công là người có tấm lòng thương yêu tương thân tương ái rất mực trước sau. Từ lúc khó khăn mới lập nghiệp cũng như khi đã về già, Tiên Công là người sống cuộc sống thanh bạch và giản dị…Kỵ nhật của tiên Công: Nguyên Thức Sinh Nguyễn Tiên Công ngày mồng 3 tháng 2. Nguyên Lý Trưởng Nguyễn Tiên Công ngày 22 tháng 6. Bia hoàn thành vào ngày 3,4 thượng tuần tháng tư Hoàng Triều Bảo Đại”.

            Làng Yên Lý, xã Phúc Sơn, với chiều dài khoảng trên 2 km, như một đường viền dưới chân núi Đót. Đây là một khu vực không những có giá trị về mặt kinh tế, mà còn có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự: “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”. Tiến có thể đánh xuống Mỏ Thổ, Việt Yên, Bắc Giang…khó khăn có thể dễ dàng rút lên Na Lương, Phú Bình, Thái Nguyên… bảo toàn lực lượng. Chính vì thế, Năm 1942, bà Hà Thị Quế, nguyên UV BCH TƯ Đảng, chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ Vịêt Nam, phó chủ tịch Liên đoàn phụ nữ quốc tế, đã được xứ uỷ Bắc Kỳ cử về Yên Lý, lấy Yên Lý làm căn cứ  xây dựng phong trào CM Yên Thế, đồng thời làm trung tâm liên lạc nối Bắc Ninh, Hiệp Hoà, Cao Bằng, Lạng Sơn và nhiều cơ quan TƯ của Đảng. Tháng 9/1944 chi bộ Đảng Yên Lý, chi bộ đầu tiên của vùng Yên Thế được thành lập. Chi bộ gồm 3 đồng chí: Hà Thị Quế, Nguyễn Đình Toại, Đỗ Viết Sách, do bà Hà Thị Quế trực tiếp làm bí thư.  Nhiều đồng chí ở trung ương như: Hoàng Quốc Việt nguyên chủ tịch UB TƯ mặt trận tổ quốc VN, Lê Thanh Nghị nguyên uỷ viên bộ chính trị, phó thủ tướng chính phủ, Hoàng Quốc Thịnh nguyên bộ trưởng bộ Nội thương, Nguyễn Trọng Tỉnh (chồng bà Hà thị Quế), nguyên tổng cục trưởng tổng cục hải sản…cũng đã từng về đây hoạt động trong thời kỳ bóng tối. Chính nơi đây là nơi xuất phát của đội quân do bà Hà Thị Quế chỉ huy đi giải phóng phủ Yên Thế ngày 17/7/1945. Thống kê trong địa bàn làng Yên Lý xưa, đã có tới bốn cụ lão thành CM: Nguyễn Đình Toại, Diêm Đăng Núi, Đỗ Viết Sách, Nguyễn Đình Hậu. Một cụ cán bộ tiền khởi nghĩa: Nguyễn Đình Minh. Mười gia đình được cấp bằng có công với nước: Nguyễn Đình Nhận, Nguyễn Đình Hậu, Nguyễn Đình Dụ, Lưu Quang Cẩn, Phạm Bá Chính, Nguyễn Thị Chúc, Nguyễn Thị Nhúc, Nguyễn Tuấn Chất, Nguyễn Văn Sanh, Diêm Thị Hiệp. Năm 2000, nhân kỷ niệm 55 năm giải phóng phủ Yên Thế, làng Yên Lý đã được gắn bia di tích ghi nhận nơi thành lập chi bộ Đảng CS đầu tiên của huyện và nơi xuất quân giải phóng phủ Yên Thế. Năm 2002 đình làng cũng được tỉnh cấp bằng di tích lịch sử văn hoá. Nơi đây là một trong năm điểm lấy và rước ngọn lửa thiêng về trung tâm lễ hội Cầu Vồng của huyện (cùng với Đình Vồng Song Vân, Đình Hă Tân Trung, Đền Cả Trọng Nhã Nam, và Lăng Phục Chân Đường Việt Lập).

           Có thể nói, trong tương lai với những giá trị lịch sử rất có ý nghĩa, những dấu tích khảo cổ học, những di tích thiên nhiên phong phú, di tích văn hoá tín ngưỡng tâm linh đậm đặc, những di tích lịch sử cách mạng quý báu, cộng với một khung cảnh thiên nhiên đầy thơ mộng…Nếu được đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng du lịch một cách thoả đáng có bài bản, chắc chắn núi Đót sẽ trở thành một điểm đến đầy hứa hẹn, một tua du lich văn hoá lịch sử tâm linh, đáng được ngưỡng mộ của vùng đất Tân Yên. Núi Đót thức dậy, chắc chắn không chỉ thức dậy một tiềm năng kinh tế có hiệu quả, mà còn bừng lên một giá trị văn hoá giáo dục sâu sắc.

Nguyễn Văn Hợi

———————————————————————–

 

 

 Posted by at 5:41 pm

 Leave a Reply

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

(required)

(required)