2. Khái quát bức tranh Tân Yên

 

 KHÁI QUÁT BỨC TRANH TÂN YÊN

         Ngày 06 tháng 11 năm 1957, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra Nghị định số 523/TTg chia huyện Yên Thế thành 2 huyện Tân Yên và Yên Thế. Trước thời điểm ấy Tân Yên là phần đất phía nam của huyện Yên Thế, mà sử sách và nhiều người dân vẫn thường gọi là miền Yên Thế hạ.
Huyện Tân Yên nằm ở toạ độ không gian 1060- 106011’ độ kinh đông; 210’18’- 21023’ độ vĩ bắc. Phía bắc giáp huyện Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên) và huyện Yên Thế; phía tây giáp huyện Lạng Giang; phía tây giáp huyện Hiệp Hoà; phía nam giáp huyện Việt Yên và Thị xã Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang) có diện tích tự nhiên là 203,8 km2. Ở phía đông của huyện, sông Thương nước chảy gần theo hướng Bắc- Nam là ranh giới tự nhiên với huyện Lạng Giang. Huyện có một con đường quốc lộ chạy theo hướng Bắc – Nam và 2 đường tỉnh lộ chạy qua theo hướng Đông – Tây.
Tân Yên là một tiểu vùng chuyển tiếp của vùng núi Việt Bắc và Đông bắc với vùng châu thổ Sông Hồng. Đặc điểm trên làm cho huyện Tân Yên có địa hình đồi núi thấp, thoai thoải hướng Tây bắc- Đông nam, với độ cao trung bình là 10-15m so với mặt biển. Điểm cao nhất là núi Đót 221,8m thuộc xã Phúc Sơn nằm ở cực Tây bắc, điểm thấp nhất là cánh đồng Chủ 1m ở xã Quế Nham. Cứ 1 km địa hình trung bình hạ bớt độ cao thêm 1m. Đặc điểm địa hình và tính chất tiểu vùng chuyển tiếp của huyện về cơ bản được quy định bởi quá trình phát triển địa chất lâu dài và phức tạp do sự vận động kiến tạo của vỏ trái đất cách ngày nay từ vài trăm triệu năm. ”Chúng biểu hiện rõ rệt trong cấu trúc địa chất của tỉnh, từ kỷ tri át cổ với các trầm tích mới thuộc thế Toàn tân”(1 ).
Theo sự nhận biết ban đầu, huyện Tân Yên có một số tài nguyên, khoáng sản: Nổi rõ nhất là Ba rít, loại khoáng sản phi kim loại ở Lang Cao xã Cao Xá và Nguyễn Sơn xã Việt Lập. Cả hai mỏ đều có trữ lượng nhỏ 30.502 tấn và 47.000 tấn. Quặng ba rít ở Lăng Cao là quặng giầu, đạt những chỉ tiêu công nghiệp dùng cho kỹ nghệ thuộc da, làm giấy ảnh, chế tạo thuỷ tinh, làm sơn và sử dụng trong nghành dầu khí… cấu tạo địa chất ở Tân Yên cũng có thể cho phép tìm kiếm các loại sét gốm sứ, sét chịu lửa, cát xây dựng.
Khí hậu ở Tân Yên bị quy định bởi địa hình toàn tỉnh, nó vừa mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm, vừa mang tính chất á nhiệt đới. Chế độ nắng và bức xạ phong phú. Hàng năm nhiệt độ trung bình 22,9oC nhiệt độ cao tuyệt đối là 37oC, thấp tuyệt đối là 1,4oC, tổng tính ôn 8268oC. Khí hậu có 2 mùa tương đối rõ rệt, mùa hè gió đông nam và mùa đông gió bắc chiếm ưu thế, lượng mưa trung bình cả năm là 1594mm. Do vị trí của huyện nằm ở khá sâu trong nội địa nên các cơn bão phần lớn bị núi chặn bớt làm yếu đi và ít gây ra những tác hại lớn. Với những điều kiện nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa và độ ẩm trên, Tân Yên có điều kiện trồng trọt nhiều vụ trong năm, phát triển chăn nuôi, áp dụng đa dạng cơ cấu cây trồng và thời vụ của một huyện nông nghiệp.
Nguồn nước của huyện có sông Thương, hệ thống nông giang sông Cầu và một hệ thống suối, ngòi nhỏ chảy qua. Sông Thương được phát nguyên từ phía đông nam tỉnh Lạng Sơn, dài 175km chảy qua huyện ở đoạn trung lưu dài 16km, lòng sông mở rộng từ 70m đến 100m, qua địa phận 3 xã là Hợp Đức, Liên Chung và Quế Nham. Hệ thống nông giang sông Cầu được đưa vào sử dụng từ năm 1929 gồm có kênh chính đoạn chảy qua Tân Yên từ kè Lữ Vân đến Điếm Thôn dài 25,8 km, và với 9 kênh cấp 2; 50 kênh cấp 3 dài 744km cung cấp nước cho 5574 ha, chiếm 56,6% diện tích đất trồng của huyện trong một vụ. Toàn huyện có 77 hồ lớn nhỏ, lớn nhất là hồ Đá Ong dung tích 7 triệu m3 nước, diện tích mặt nước có khoảng 400 ha. Lượng nước phân bổ trong năm không đều, về mùa mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm. Sông ngòi, hệ thống nông giang của Tân Yên là một yếu tố rất cơ bản và thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và vận tải thuỷ, tuy nhiên việc sử dụng vào các lĩnh vực vận tải chưa được khai thác hết tiềm năng.
Thổ nhưỡng của huyện trên diện tích 20.332 ha, có 2 loại đất chính hình thành từ 2 nguồn gốc: Loại đất hình thành tại chỗ do phong hoá đá mẹ và loại đất hình thành do phù sa sông bồi tụ. Căn cứ vào ngồn gốc, trên  đất Tân Yên nổi rõ 3 nhóm đất: Nhóm đất đồi và ruộng bậc thang nằm chủ yếu ở phía đông bắc của huyện, chiếm 20% diện tích đất tự nhiên, nhóm đất phù sa cũ bạc màu nằm ở phía tây nam cũ của huyện, chiếm tới 70% tổng diện tích tự nhiên, nhóm đất phù sa có địa hình thấp trũng nằm ở phía đông nam, chiếm 10% tổng diện tích đất tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên Tân Yên có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp như: Trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng rau và phát triển chăn nuôi để tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm làm hàng hoá và phục vụ đời sống nhân dân. Các hoạt động kinh tế khác như giao thông vận tải, tiểu thủ công nghiệp, khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng và dịch vụ đều có cơ sở của điều kiện tự nhiên đảm bảo và cần hoạch định trong những thập niên tới, để xây dựng và phát triển.
Mặt khác, chúng ta cũng cần nhận thức có những mặt không thuận lợi của điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý: Không có đường giao thông quan trọng của quốc gia chạy qua, thảm rừng tự nhiên của những năm gần đây không còn nữa, kéo theo sự thu hẹp và mất hẳn nhiều loại động thực vật. Thổ nhưỡng ngày càng bị xói mòn, lượng mưa phân bổ không đều trong năm, nguồn nước mới chỉ đủ cung cấp cho 62% diện tích đất canh tác. Đó là những khó khăn đặt ra cho Tân Yên thực hiện công tác điều tra quy hoạch cơ bản, ưu tiên cho việc giữ gìn và bồi đắp tự nhiên trong thế kỷ mới.
Tân Yên hiện nay có 22 xã, An Dương, Cao Xá, Cao Thượng, Ngọc Lý, Đại Hoá, Lam Cốt, Lan Giới, Liên Sơn, Liên Chung, Nhã Nam, Ngọc Vân, Ngọc Thiện, Ngọc Châu, Tân Trung, Phúc Hoà, Phúc Sơn, Quế Nham, Quang Tiến, Song Vân, Việt Lập, Việt Ngọc và có 2 thị trấn là Cao Thượng và Nhã Nam. Huyện lỵ đóng tại thị trấn Cao Thượng.
Theo tổng điều tra dân số năm 1999, dân số của Tân Yên là 156.464 người, bằng 10,5% dân số của tỉnh Bắc Giang; mật độ trung bình là 778 người/km2 là huyện xếp thứ 6 về dân số, xếp thứ 5 về mật độ dân số so với 10 huyện, thị xã của tỉnh. Trong huyện có các dân tộc anh em đang chung sống chủ yếu là: Việt, Tày, Nùng, Hoa… Người Việt đông nhất chiếm 99,4% dân số, các dân tộc ít người chiếm 0,6%, chủ yếu ở các xã: An Dương, Quang Tiến, Lan Giới, Liên Sơn sống xen kẽ với các dân tộc anh em khác trên địa bàn.
Dân cư Tân Yên phân bố không đều, mật độ cao nhất là thị trấn Cao Thượng (1952 người/km2), Nhã Nam (1718 người/km2), Song Vân (1010 người/km2); mật độ dân số thấp ở Liên  Chung (550 người/km2), Việt Lập (569 người/km2), Phúc Hoà (571 người/km2). Tốc độ  phát triển dân số của Tân Yên cũng khá cao, tỷ lệ tăng bình quân dân số tự nhiên hàng năm (tính từ năm 1986 đến 1999) biến thiên từ 2,225% đến 1,12%. Trong khoảng 40 năm qua dân số Tân Yên được tăng 2,5 lần (năm 1960 dân số 63.142 người), năm 1979 dân số 135.033 người, năm 1979 dân số 100.973 người; năm 1989 dân số 135.033 người và năm 1999 dân số 156.464 người). Trong điều kiện của huyện nông nghiệp, dân cư ở nông thôn, thu nhập bình quân đầu người còn thấp thì việc tăng dân số như trên là việc khó khăn cho việc thực hiện chính sách xã hội và phát triển kinh tế, đòi hỏi phải tiếp tục có biện pháp đồng bộ để hạ tỷ lệ phát triển dân số nhằm tập trung nguồn lực để xây dựng huyện và nâng cao đời sống nhân dân.
Trong cơ cấu dân số của Tân Yên hiện nay (1999), tỷ lệ nữ nhiều hơn nam (có 52 nữ, 48 nam trong 100 người), về cơ cấu tuổi số người chiếm tỷ lệ khá cao, phần lớn là trẻ em và thanh niên, chỉ tính riêng từ năm 1989 đến năm 1999, số trẻ được sinh ra là 32.229 cháu. Nghề nghiệp chủ yếu là dân Tân Yên là nghề nông, có 97% dân số sản xuất nông nghiệp, có 4.857 người thuộc thị trấn.
Hoà cùng với dòng chảy của lịch sử dân tộc, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra 2 chiếc cuốc bằng đá ở Phúc Sơn, một số mảnh tước và công cụ không định hình như rìu tay hoặc công cụ hình hạt nhân, có dấu ghè tu chỉnh… Tuy những cổ vật còn đơn lẻ và chưa nhiều, song đó là dấu hiệu của con người thuộc sơ kỳ kim khí – tức thời kỳ đồ đồng với kỹ thuật chế tác đá và đạt tới đỉnh cao là cưa, mài tinh xảo, kết hợp với ghè, đập. Điều này càng khẳng định Tân Yên miền đất có lịch sử lâu đời và phát triển tiếp tục.
Theo nguồn sử cũ, Tân Yên là một bộ phận của bộ Vũ Ninh (Vũ Ninh là một trong 15 bộ của nước Văn Lang thời các vua Hùng), là địa bàn cư trú, làm ăn của người Việt cổ. Cùng với những cổ vật trên sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh, lẽ hội dân gian ở Tân Yên cũng phản ánh lịch sử lâu đời của con người trên miền đất này: Các đình thờ thần Cao Sơn – Quý Minh, những vị tướng có công đánh giặc thời kỳ các Vua Hùng; đình Bậu (thôn Bùi xã Cao Thượng), đình làng Chuông (xã Liên Chung), đình Dương Lâm (xã An Dương) và nhiều phong tục, trò chơi như cướp cầu, cấm đồng, gọi gạo, múa rối nước… được nhân dân lưu giữ và truyền lại nhiều đời. Qua hoạt động khảo cổ và qua huyền thoại cho ta thấy đất Tân Yên thời cổ, con người Tân Yên thời cổ đã góp phần xây dựng, bảo vệ, khai thác vùng đất này, góp phần tạo dựng truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc hết sức cao đẹp.
Ở thời nhà Lý các tù trưởng họ Giáp, họ Thân có thế lực lớn, có uy tín nối đời làm phò mã. Với lòng yêu nước và tinh thần quả cảm, các ông đã cùng nhân dân các dân tộc thiểu số vùng đông bắc tham gia vào cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, nhiều thế hệ con cháu tham gia vào cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông thời nhà Trần.
Thế kỷ XV và đến thế kỷ XVIII vùng đất này xuất hiện nhiều nhân kiệt đó là các quan văn, xuất thân từ khoa bảng (đỗ tiến sĩ)  đã đóng góp nhiều công lao cho đất nước như các ông: Nguyễn Đình Tấn, Nguyễn Vĩnh Trinh, Dương Thận Huy, Phùng Trạm, đó là các quan võ như hai anh em quận công Dương Quốc Minh và Dương Hùng Lượng ở Vân Cầu, Song Vân, Văn thần Nguyễn Vĩnh Trinh, Võ tướng Giáp Trinh Tường (Nguyễn Giáp Thái) giữ tới chức Thái bảo thuộc hàng nhất phẩm, có địa vị ngang với tể tướng.
Từ một vùng đất hoang vu, nhờ có chính sách khai phá mạnh thời hậu Lê, dân cư Tân Yên từng bước đông lên, chung sức, chung lòng lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống tinh thần ngày càng phong phú.
Những công trình tín ngưỡng, tôn giáo (như các đình chùa) đều có cấu trúc đẹp, quy mô lớn, trạm khắc, đắp vẽ tài nghệ. Ở Tân Yên còn lưu giữ nhiều bia đá, sắc phong, thần tích, hoành phi câu đối và các tục lệ thờ cúng, lễ hội, các trò chơi dân gian nói lên vùng đất mà từ ngàn xưa, con người đã giàu lòng yêu nước, yêu quê hương cùng với những ước vọng khao khát xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Bước vào thế kỷ XIX, thời nhà Nguyễn và thời thuộc Pháp ở miền Yên Thế hạ này đã có đến 8 cuộc khởi nghĩa. Rực sáng nhất là cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Lương Văn Nắm sau đó là Hoàng Hoa Thám làm thủ lĩnh. Ngót 30 năm chiến đấu quật cường (1884- 1913), Lương Văn  Nắm, Hoàng Hoa Thám và cuộc khởi nghĩa Yên Thế là những trang sử chống ngoại xâm oai hùng của dân tộc Việt Nam./.

 

 

 Posted by at 9:44 pm

 Leave a Reply

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

(required)

(required)